PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐÒ LÈN

1. Mở bài:

     – Giới thiệu chung về nhà thơ Nguyễn Duy và khái quát về bài thơ Đò Lèn.

2. Thân bài:

     a. Người cháu nhớ lại hình ảnh tảo tần, lam lũ của người bà

          – Hai khổ thơ đầu: tác giả nhắc lại những kỉ niệm tuổi thơ của một chú bé nhà nghèo, thích chơi bời lêu lổng, nghịch ngợm… chẳng kém ai:

               + Vui thích với những trò chơi trẻ thơ: bắt chim, trộm nhãn, theo bà đi chợ, câu cá.

               + Say mê thế giới thần tiên: chơi đền Cây Thị, xem lễ đền Sòng, ấn tượng mùi huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

               + Gợi nhớ những kỉ niệm xưa, thể hiện sự trân trọng thời thơ ấu, yêu quý quê hương nguồn cội, tiếc nhớ người bà kính yêu.

               + Ngoài ra nó còn là cái nhìn tự vấn, tự soi chiếu lại sự vô tâm của bản thân khi chưa biết quan tâm đến bà khi còn được ở bên bà.

          – Ba khổ thơ tiếp theo: Nguyễn Duy đã tái hiện xúc động hình ảnh người bà yêu quý:

               + Bà âm thầm vượt qua mọi cơ cực, buôn bán ngược xuôi, chịu mọi hiểm nguy để nuôi dạy người cháu mồ côi và nghịch ngợm giữa cảnh chiến tranh khốc liệt: bà mò cua xúc tép, gánh chè xanh Ba Trại, thập thững những đêm hàn, bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất, bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

          => Đó là một nét vẽ rất thực, rất đậm trong hình tượng về người bà của nhà thơ; và cũng là hình ảnh người bà rất gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam chúng ta.

               + Bà là một phần của tuổi thơ cháu, thân thương và gắn bó biết bao: níu váy bà đi chợ Bình Lâm,…

               Bà hiền lành, tâm hồn bà đôn hậu, thánh thiện. Tiên, Phật, Thánh soi sáng lòng từ bi, bác ái mà bà hướng tới. Sống trong tình thương ấp ủ của bà, đứa cháu mới thấu hiểu được tấm lòng, tâm hồn của bà.

          => Trước người bà giản dị, lam lũ mà tràn đầy tình yêu thương con cháu, tràn đầy nghị lực cao cả, người cháu vừa rất mực yêu quý và trân trọng bà. Bà là hiện thân của đức hi sinh, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam, của những cái cò lặn lội trong cuộc đời.

     b. Sự thức tỉnh muộn màng của người cháu

          – Nỗi xúc động của đứa cháu khi đứng trước ngôi mộ bà ngoại:

               + Dòng sông xưa là sông Chu, sông Mã, sông Đò Lèn.

               + Câu thơ: “Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm nghĩa về cuộc đời bể dâu, về sự đổi thay của quê hương, xứ sở.

               + Câu cuối bài thơ “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” man mác buồn, mang ý vị triết lí về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô cùng của thời gian và vũ trụ. Đồng thời, thể hiện nỗi hân hận của người cháu vì năm xưa đã vô tâm, không thể chăm sóc bà.

3. Kết bài:

     Cảm nhận chung về bài thơ.

You may also like...

Trả lời